Pháp thoại tại Đại lễ Vu Lan chùa Phật Ngọc Xá Lợi Vĩnh Long 2017

phap-thoai-tai-dai-le-vu-lan-vinh-long-2017

Sự kiện: Lễ Vu Lan báo hiếu và an vị 18 tôn tượng La Hán tại chùa Phật Ngọc Xá Lợi

Địa điểm: chùa Phật Ngọc Xá Lợi (287A Ấp Vĩnh Hòa, Xã Tân Ngãi, Thành phố Vĩnh Long, Tỉnh Vĩnh Long).

Tóm lược:

Nhằm giúp cho các phật tử hiểu thấu đáo vì sao ta có ngày Vu lan tự tứ, TT Thích Chân Quang đã nêu ra một quan điểm rằng: Vào ngày này, nhờ uy đức, đạo lực của cộng đồng chư Tăng mà ta nhờ các vị chú nguyện cho người thân, tức là cha mẹ ông bà, cửu huyền thất tổ ở cõi âm được siêu thoát. Như vậy trách nhiệm báo ân, báo hiếu, xá tội vong nhân đặt hết lên vai của chư Tăng.

Nếu chư Tăng không có tu hành trong ba tháng thì lời cầu nguyện là vô nghĩa, không có tác dụng gì cả. Chính vì phật tử tin rằng chư Tăng có đạo lực thật sự nên mới tìm đến chùa vào ngày lễ Vu Lan, từ đó ta có lễ hội Vu Lan diễn ra khắp nơi. Vào tháng 7 âm lịch này, kể cả những người, những công ty, cơ quan không theo đạo Phật họ cũng đều cúng cho người cõi âm cả. Cho nên, tháng 7 trở thành tháng xã hội hóa. Mà suy cho cùng đó là nhờ chư Tăng tu hành nghiêm túc trong 3 tháng.

Vậy trong ba tháng chư Tăng làm gì để đạo lực tăng tiến khiến trời đất kiêng dè, quỷ thần kinh sợ, các vong linh được siêu thoát?

HT Thích Viên Giác cho rằng: Thật ra người xuất gia thì phải nỗ lực tu hành không ngưng nghỉ cả đời mình, chứ không phải chỉ trong ba tháng an cư. Tuy nhiên ba tháng này đặc biệt hơn vì đó là khoảng thời gian chư Tăng tụ họp lại gần nhau, tạo nên cái động lực, sự tinh tấn hơn hẳn khi tu một mình.

Và thiền định là công phu tu tập quan trọng trong ba tháng an cư. Vì sao vậy? Con đường tu tập Phật vạch ra đều nằm trong ba điều: Giới – Định – Tuệ. Một khi có 3 điều này thì có giải thoát. Mà làm sao để có Tuệ? Phải có thiền, không có thiền thì không có trí tuệ.

Một tâm hồn loạn động, ô nhiễm, rối ren phức tạp, đầy tham sân si thì làm sao có trí tuệ.

Như thế, để đi đến sự tĩnh lặng, tăng trưởng trí tuệ thì chỉ có con đường thiền định mà thôi.

Tâm ta nhiều loạn tưởng, phiền não, ô nhiễm, ví dụ: một mái tóc tổ quạ, một đôi mắt chớp chớp qua cái tâm tưởng loạn động đó có thể trở thành lung linh, đều là cám dỗ cả. Thiền định sẽ bảo vệ tâm hồn ta khỏi ô nhiễm loạn động. Thiền định là con đường ngăn ngừa diệt trừ mọi vọng tưởng. Từ đó, đạo lực ta tăng trưởng dần, ta đi dần đến giải thoát. Do vậy, đời sống chư Tăng bền vững, giáo hội ổn định lâu dài và ánh sáng Phật pháp mới trường tồn.

Dịp này, để các phật tử có niềm tin vào Tam bảo và tạo cho họ một tâm linh an ổn, Hòa thượng đã phân tích kỹ hơn cho các phật tử hiểu trong ba tháng an cư, chư Tăng làm gì để có được Giới – Định – Tuệ.

Nhân đây, nhằm giúp mọi người có sự quan tâm đúng mức về tâm linh, TT Thích Chân Quang đã nói về sự hình thành, và vai trò của pháp môn Tịnh độ. Theo Người, ngày nay các chùa tu theo Tịnh độ tông rất nhiều. Nhưng vào thuở ban đầu khi Phật giáo hóa, Ngài không bao giờ nói mọi người hãy gọi tên một Đức Phật nào đó để được cứu thoát. Chỉ Bát Chánh Đạo là con đường lâu xa, khó khăn nhưng sẽ đưa con người đến giải thoát mà thôi.

Vào thời Đức Phật người ta chứng đạo rất nhiều, tuy nhiên sau khi Phật nhập Niết Bàn rồi thì số người chứng đạo thưa thớt, hiếm hoi dần. Lúc đó, sau mấy trăm năm bị yếu thế, ngoại đạo đã trỗi dậy mạnh mẽ để cạnh tranh ảnh hưởng với đạo Phật. Họ củng cố lý luận, nói rằng tu theo đạo Phật không thấy ai đắc đạo, còn tu theo chúng tôi thì được lên cõi trời sung sướng hạnh phúc hơn, mà lúc sống cũng không cần tu gì nhiều. Tức là lời hứa hẹn về một cõi thiên đường sau khi chết. Nó đánh đúng vào tâm lý tham của con người, vì vậy khi ấy quần chúng đổ xô theo ngoại đạo.

Trước tình hình này, có vị Tổ đã đưa kinh Di Đà và sau đó là kinh Vô Lượng Thọ vào trong Phật giáo, nội dung cũng hứa hẹn về một cõi Tịnh độ sau khi chết, cõi này được diễn tả còn vi diệu hơn cõi trời. Và đạo Phật bắt đầu lấy lại ảnh hưởng của mình trong quần chúng.

Nhiệm vụ của Tịnh độ lúc đó là giữ tín đồ cho đạo Phật, chứ chưa hướng dẫn người ta tu tập Bát Chánh Đạo. Chỉ cần giữ tín đồ, vì còn là đệ tử Phật thì còn cái duyên tu hành giác ngộ giải thoát, còn nếu không may trôi lạc ra ngoại đạo rồi thì trôi lăn luôn.

Và Tịnh độ tông đã thành công với nhiệm vụ giữ tín đồ lại cho đạo Phật trong suốt một nghìn năm qua. Những người không biết nhiều chữ nghĩa, chỉ niệm danh hiệu Phật A Di Đà cũng thấy lòng họ được thanh tịnh.

Nhưng rồi khi đi sâu vào đạo, ta buộc phải tu thiền để nhiếp tâm trong thanh tịnh, đó mới là công phu tu tập thật sự, không còn con đường khác. Vì vậy ta thấy các bậc Hòa thượng, những bậc tôn túc của ta mặc dù ở chùa Tịnh độ tông nhưng đều là Thiền sư cả, cuộc sống của các vị đầy thiền vị. Cánh cửa mở ra cho quần chúng là cánh cửa Tịnh độ, nhưng sâu thẳm trong tâm hồn các vị đều là Thiền sư.

Do vậy trong chùa, Thiền và Tịnh không có biên giới. Thiền là Tịnh độ, Tịnh độ là Thiền. Bản chất của Tịnh độ chính là Thiền. Niệm Phật vãng sanh có nghĩa đen và nghĩa bóng. Nghĩa đen là đối phó với ngoại đạo để lấy lại tín đồ, còn nghĩa bóng đều là thiền cả. “Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh”, chứ không phải ngộ vãng sanh. Ngộ vô sanh nghĩa là giác ngộ tâm linh, nên bản chất giấu sâu trong Tịnh độ chính là Thiền.

Nếu niệm Phật mà có Thiền thì còn là đạo Phật, còn nếu chỉ niệm Phật mà không còn biết gì khác, thì đó là “ngoại đạo chánh tông”. Ví dụ chư Tổ có dạy niệm Nam Mô A Di Đà Phật, sau này có người đổi thành Nam Mô A Mi Đà Phật, rồi dần dần bỏ từ “nam mô”, chỉ còn để lại chữ A Di Đà, trong khi “nam mô” có nghĩa là kính lễ. Rồi họ bỏ luôn Phật Thích Ca (Phật bảo), khuyến khích không học giáo điển, không cần giáo lý, không cần biết nhân quả (Tăng bảo), không cần đến chùa gặp Tăng Ni (Tăng bảo). Có những hội niệm Phật họ bỏ luôn Phật Pháp Tăng như vậy. Ta nghe họ có chữ “Phật” nhưng thật ra là ngoại đạo đang diệt dần dần Tam Bảo, tức diệt đạo Phật.

Nên niệm Phật cực đoan không phải là đạo Phật mà là ngoại đạo trá hình để diệt đạo Phật, diệt trừ Tam Bảo.

Còn niệm Phật thật sự đều ẩn chứa trong đó Thiền định cả. Mà chính nhờ công phu Thiền định ta mới có giá trị tâm linh của đạo Phật, để sau ba tháng an cư ta nương nhờ uy đức chư Tăng mà cầu siêu cho cửu huyền thất tổ của mình. Cái tâm thanh tịnh trong Thiền định tạo thành giá trị tâm linh, mà đó chính là chìa khóa của sức mạnh trong đạo Phật. Ngày nay, thiền định Phật giáo đang từng ngày, từng giờ được mọi người, mọi dân tộc trên thế giới ứng dụng. Sau này một đất nước hay xã hội con người có phát triển hay không thì đòi hỏi rất nhiều yếu tố, nhưng trong đó Thiền có thể nói là một yếu tố cực kỳ cốt lõi, đặc biệt đối với lớp trẻ.

Kế đến, nói về “Tứ ân” trong Phật pháp, Thượng tọa nhấn mạnh đến ân quốc gia. Hiện tại mọi người ngồi dự lễ Vu lan trong ngôi chùa đầm ấm, trong một đất nước yên bình, nhưng nếu nhìn rộng ra sang Trung Đông một chút, ta sẽ thấy các nước Hồi giáo đang đánh nhau, Châu Âu thì đang bị khủng bố liên miên, Triều Tiên, Nhật Bản, Hàn Quốc đang căng thẳng không biết chiến tranh nổ ra lúc nào, Phillipine khốn đốn vì Hồi giáo cực đoan ở phía Nam, nước Mỹ cũng điêu đứng vì cơn bão…. Riêng ở Việt Nam ta bình yên.

Ta bình yên đón Vu lan, bình yên tu tập, bình yên đi về, bình yên tưởng nhớ ông bà cha mẹ… Là nhờ đâu? Nhờ quốc chủ anh minh, nhờ lãnh đạo quốc gia. Đất nước ta tiến lên từ từ là nhờ ơn của quốc chủ, ơn của người lãnh đạo quốc gia, mà đó là điều ta không nhìn thấy. Trong tứ trọng ân có ân quốc gia là vậy.

Chỉ trừ người ngu si hoặc người biết mà cố tình phớt lờ, còn người có trí tuệ, có lương tâm khi nhìn vào một thế giới bất ổn này thì phải biết về sự lãnh đạo khéo léo của quốc chủ ở nước mình, phải biết ơn và báo ơn. Báo ơn bằng cách nào?

Đó là mỗi người khi làm một việc gì đừng nghĩ vì cá nhân mình nữa, mà là vì đất nước. Ta hướng tâm xây dựng từ gia đình, cho đến xã hội, dân tộc. Ta hướng tâm về cả đất nước thân yêu của mình. Đồng thời, lòng ta luôn trân trọng sự lãnh đạo của chính quyền, trong tâm ta luôn có đạo đức của sự trung thành đối với tổ quốc mình.

Nghe pháp:

Nguồn Facebook Thiền Tôn Phật Quang

0 Shares