Nhân quả trả vay

nhan-qua-tra-vay-thich-chan-quang

Sự kiện: Vu Lan Báo Hiếu PL.2556 – DL.2012

Địa điểm: Tổ đình chùa Kim Huê (Chùa nằm cạnh cầu Cái Sơn 4, phường I, thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp).

Tóm lược:

Đi vào nội dung của đề tài, Thượng toạ cho rằng “Tất cả chúng sinh sống trên đời này đều mắc nợ qua lại, đều vay, đều trả lẫn nhau. Ví như cha mẹ với con cái; vợ với chồng; anh chị em; thầy trò; bạn bè đồng nghiệp… tất cả đều là vay trả qua lại. Mà nếu chúng ta vay điều gì đó trong tình yêu thương tử tế thì gọi là có duyên lành, vì thái độ người vay và người cho vay đều hiền lành tử tế. Món nợ này dễ chịu, có khi ta không nhớ để trả nhưng nhân quả nó thúc đẩy trong tâm mình, biến thành tình yêu thương. Đó là lý do tại sao có những người vừa mới gặp đã thấy thương mến, muốn giúp đỡ. Và bằng các ví dụ đơn giản cụ thể, Thượng toạ Phân tích cho thấy “Trên đời này khi mình yêu thương ai thì ta biết ngay đó là nợ và chỉ nhìn qua thái độ ta sẽ biết ai nợ ai”. 

Nhìn trên phương diện tình cảm thì “Nợ” là duyên nghiệp mà thôi. Còn nhìn trên bình diện xã hội hiện tại thì “Nợ” là vợ chồng, là cha mẹ con cái, hoặc có thể là kẻ thù nếu chúng ta vay trong thù hận, ganh ghét. Đó gọi là oan trái. Có những người vừa nhìn mặt ghét liền vì đời xưa đã hãm hại nhau, chưa trả xong hoặc trả một phần, mối thù còn kéo dài tới kiếp này. Cứ như vậy, trong đời sống, chúng ta cứ vay trả, trả vay. 

Tuy nhiên, khi nợ ai không những ta nợ vật chất mà còn nợ cả trái tim, cả tấm lòng Cái nợ này nặng hơn tất cả, nên người xưa có câu nói “Món nợ lớn nhất của đời người là tình cảm”. Cũng vậy, một người đánh ta, sỉ nhục ta là gửi cả căm hờn, thù ghét, sự hiểm độc trong đó. Cho nên, trên đời này, mỗi một món nợ vật chất đều gửi theo đó cả trái tim, cả tình cảm thương ghét. Và chính tình cảm thương ghét làm ta nặng lòng, là động lực đẩy ta đi vào luân hồi sinh tử. Phật dạy “Ái” là nguyên nhân của đau khổ. Người bước vào cuộc sống hôn nhân với bao trách nhiệm, sóng gió, vất vả, lo toan đè nặng lên đôi vai, lên trái tim của mình. Nguyên nhân của nó là ái, là cái nợ của quá khứ. 

Do đó, người tu mà kiểm soát được trái tim, trả được món nợ vất chất, thoát được thương ghét trong lòng là người đó bắt đầu giải thoát. Giải thoát bao gồm 2 nghĩa:
1/ Là trả xong món nợ vật chất.
2/ Là hóa giải được tình cảm thương ghét.

Cứ thế, nợ thương ghét và nợ vật chất đè trên vai ta, mà khi đi vào luân hồi ta cũng trả lại cả hai thứ là vừa yêu thương, vừa giúp đỡ bằng vật chất lại người ta mắc nợ. Nên nhớ, “Nợ” là không chỉ có vật chất mà còn có trái tim, có tình cảm thương ghét. Trong cái tình thương ghét này, xã hội ta, các bậc Thánh triết đã lập ra từng loại như: đạo vợ chồng, đạo hiếu, đạo nghĩa, đạo vua tôi, v.v… để con người xây dựng tấm lòng, tình cảm của mình cho đúng. Có đúng như vậy ta mới sống trên đời là người tử tế, trả được món nợ đã vay. Phải trả hết nợ, ta mới siêu vượt khỏi thế gian để giải thoát, đừng ai nghĩ trốn nợ mà có thể tu hành giải thoát được. 

Chính người đi tu muốn giải thoát là người có cách trả nợ nhanh thôi chứ không phải không trả nợ. Một người chỉ cần tu hành chân chính, nghiêm túc thì bản thân chẳng những trả hết nợ thế gian mà chúng sinh còn mắc nợ lại họ rất nhiều vì đạo lý tâm linh là vô giá và Thượng toạ đã làm sáng tỏ về các quan điểm dưới đây bằng hàng loạt các ví dụ rất ấn tượng, chứng minh cho từng trường hợp được nêu ra, đó là:

– Trong luân hồi sinh tử, trong cái nhân quả trả vay, có những món nợ rất dễ trả và có những món nợ khó trả. Có chủ nợ dễ chịu, đồng thời cũng có chủ nợ khó chịu. Thượng toạ hướng dẫn cho người Phật tử, ngoài việc tìm cách trả nợ, còn gieo thêm ân nghĩa để độ chúng sinh. Đó là hạnh nguyện của Bồ tát. 

Người có đạo đức luôn nhớ những người mình đã mắc nợ và tìm cách trả. Trả bằng tình yêu thương hoặc nhân quả bắt ta phải lọt vào hoàn cảnh nào đó để trả nợ. 

Trả nợ là sự bắt buộc của nhân quả và còn là sự bắt buộc của lương tâm. Trong đó, có một ân nghĩa lớn ta phải trả, đó là ân nghĩa đối với cha mẹ mà Vu Lan là ngày nhắc chúng ta hạnh hiếu. Đạo hiếu là căn bản của đạo đức, có đạo hiếu rồi mới có những đạo đức khác. Trong sự báo hiếu, cái cao quý nhất là làm thế nào cho cha mẹ ta kính tin Tam Bảo, một lòng hướng về Phật pháp tu hành song song với việc làm phước.

Hễ là nợ thì là gánh nặng của tâm hồn. Người có trí tuệ không bao giờ thích cho tâm hồn mình bị đè nặng như vậy. Một vị Bồ tát rất dè dặt khi nhận ân nghĩa của ai. 
Người có đạo đức là người sợ nợ và người muốn giải thoát rất dè dặt với những món nợ trong đời mình. Nhân quả rất nghiêm khắc trong việc vay trả nhưng ta được quyền lựa chọn cách trả. Nếu là người kém đạo đức, ta chọn cách trả vất vả, hạ liệt, tầm thường, cực khổ. Ngược lại, người có đạo đức sẽ trả nợ cao thượng hơn, giá trị hơn, đó là tu hành chân chính cho đến lúc đắc đạo. 

Một quy luật mới, nếu ta gieo hạt giống xuống thửa ruộng tốt, hạt giống đó lên cho ta trái ngọt, thơm ngon, một hưởng muôn ngàn. Cúng dường người tu cũng như trồng cây trên đất. Ta chia đất đó làm 3 loại: đất cằn, ta phải cày rất cực nhọc mới lấy được sản phẩm, đó là cúng dường cho người tu dở. Trường hợp thứ hai là gieo hạt giống lên đất mầu mỡ, trồng chơi mà ăn thật, đó là cúng dường cho người tu tốt, tu đàng hoàng, tuy vị đó chưa chứng đạo. Trường hợp thứ ba là cúng cho người tu đắc đạo, phước đó biến thành phước tâm linh cho đời sau, ta hưởng không hết, giàu sang, vinh quang, tâm linh ta mở ra, ta tu rồi đắc đạo luôn. Điều đó có nghĩa là một người cố gắng tu sẽ làm lợi cho vô số chúng sinh là như vậy.

Tóm lại, hàng ngày ta sống trên đời là vay nợ với đất trời, kết thành ân nghĩa vô số. Cả cuộc đời là mang nợ, nếu ta không cống hiến, bù lại hơn cái nợ ta đã nhận thì kiếp sau sẽ làm người hèn kém, nghèo khổ. Người đạo đức là người sợ nợ, là người tính nhân quả trả vay rất kỷ, trong lòng lúc nào cũng ôm ấp hoài bảo sống để phụng sự, cống hiến. Được như vậy ta sẽ có phước để có thể chọn lựa trong cuộc sống này. Người thiếu phước sẽ không được quyền chọn lựa, tức mất tự do. Cái tự do trong nhân quả là ta có phước, ta sẽ có nhiều con đường để chọn lựa. Người thiếu phước là do đời trước thụ hưởng ơn nghĩa của quá nhiều người trong đời mà không cống hiến. 

Qua nội dung bài NHÂN QUẢ TRẢ VAY này, ta hiểu rằng, sống trên đời sự thật chỉ là nợ hay không nợ, trả hay là không. Trong đó cái vay – trả, nợ – không nợ gồm 2 phần: một là vật chất, hai là trái tim, tình cảm người ta gửi theo trong món nợ đó. Và cả hai, vừa là tình cảm, vừa vật chất đó sẽ đè nặng trong lòng, làm cho ta cảm giác nặng nề khó chịu. Do đó, một người muốn tu hành thì phải làm sao ít mắc nợ, gieo ân phước với đời nhiều hơn là thụ hưởng. Cố gắng tu hành chân chính để đem đạo lý vô giá trả nợ cho đời. Nếu không thì sự trả nợ của người tu còn nặng hơn người thường, vì trong khi cúng dường người ta đã đem tình cảm kính trọng đi theo. Tình cảm kính trọng này mới đáng sợ. Nếu ta không xứng đáng với lòng kính trọng đó, ta phải trả rất nặng. Cho nên, để là một Tu sĩ vừa xứng đáng với vật chất người ta cúng dường, vừa xứng đáng với tấm lòng kính trọng người ta gửi theo khi dâng cúng thì chỉ có đạo lý của Phật mới đủ sức hoá giải. Nếu không có Phật Pháp thì Thầy tu không bao giờ trả nổi ân nghĩa trên đời.

Mọi người chúng ta dù Tăng hay tục, đều biết rằng mình đang mắc nợ và phải có bổn phận trả nợ cho đời. Ta có 3 cách trả: Một là trả vất vả vì ta tệ quá, hai là trả dễ dàng hơn vì ta tốt, nhưng tuyệt vời nhất vẫn là người tu hành tinh tấn thì trả nợ cuộc đời rất dễ. Nếu ta là người biết tu tập tâm linh vô ngã thì những người đã giúp đỡ ta trong đời này họ được hưởng phước vô lượng. Vì vậy, dù xuất gia hay tại gia để trả được nợ cho đời ta chỉ làm hai điều:

1/ Trong khả năng của mình, nếu cống hiến, giúp đỡ ai được điều gì thì nên làm, không tiếc công, không phân biệt.

2/ Tin tấn tu tập thiền định tâm linh hướng về vô ngã.
 

Nguồn Thiền Tôn Phật Quang

0 Shares