Lộ trình giác ngộ

lo-trinh-giac-ngo-thich-chan-quang

Địa điểm: chùa Tương Mai (231 Trương Định, Hoàng Mai, Hà Nội).

Tóm lược:

Trên lộ trình giác ngộ, đầu tiên ta phải nhận thức về vô ngã; thứ hai là thường suy nghiệm, quán chiếu về vô ngã; thứ ba là hình thành đạo đức và công đức.

Nói về nhận thức về vô ngã, Thượng toạ cho rằng: Lộ trình giác ngộ là con đường đi đến sự giác ngộ. Ai là người khát khao, có ý thức, có lý tưởng đi tìm sự giác ngộ thì thứ nhất là những người nghĩ mình còn đang si mê, tăm tối, vô minh nên muốn vượt khỏi thân phận thầm thường của con người. Thứ hai là những người tuy không nghĩ mình ngu si, nhưng họ tin rằng sự giác ngộ là một điều cao siêu, cực kì đáng để họ hi sinh cuộc đời này và nhiều kiếp sau nữa để đi tìm. Nếu mức độ hiểu của ta về giác ngộ không sâu sắc thì động cơ, động lực, sức mạnh, lý tưởng để ta đi tìm sự giác ngộ cũng rất yếu. Do vậy, ta sẽ dễ dàng bỏ con đường này mỗi khi có những niềm vui ở đời lôi kéo. Ngược lại thì ta sẽ hình thành một lý tưởng rất lớn – lý tưởng cho ta đủ sức mạnh để khước từ, đánh đổi, hi sinh những niềm vui thế gian vốn dĩ quyện chặt trong máu, trong tim, trong tâm hồn chính mình.

Muốn đi trên lộ trường giác ngộ chông gai như thế thì nhận thức về mục tiêu giác ngộ của ta phải rất rõ ràng, nhưng hiểu về vô ngã – một trạng thái mà chúng ta chưa chứng đến là việc cực kì khó khăn.

Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này, chúng ta chỉ nói một khía cạnh nhỏ nhưng là cốt tủy của giác ngộ đó là vô ngã. Chúng sinh đều mắc bệnh chấp ngã, đều thấy có một cái “tôi” rõ ràng, rất khác biệt với người khác. Từ cái “tôi” đó, vô số tâm lý như tham muốn, tham lam, thèm khát, thù hận, yêu thương, kiếm tìm… cứ bao quanh, bám chặt để tạo thành một bản ngã gần như “bất khả hủy diệt”. Và Thượng toạ đã dùng nhiều ví dụ để chứng minh cho luận cứ này.

Nhân đây, Thượng toạ cũng phân tích cái trạng thái dứt sạch, thoát khỏi bản ngã là như thế nào. Chúng ta hiểu: Khi vật chất bị chia nhỏ ra đến gần như tan hết, vật chất không trở thành hư vô mà trở thành năng lượng. Người ta đã chế tạo ra bom hạt nhân dựa vào nguyên tắc vật lý này. Cũng vậy, khi ta tu để mỗi ngày bớt đi tham, sân, ích kỷ, bỏ bớt dần dần rồi đến mức hết sạch bản ngã… lúc đó ta không còn là ta nữa mà đã trở thành pháp giới vũ trụ thênh thang này.

Nếu ta là vũ trụ, ta sẽ có tình yêu thương của vũ trụ, ta là tất cả chúng sinh, chúng sinh là ta, không nói yêu thương mà thương yêu tràn ngập. Thứ hai, ta là toàn thể vũ trụ này với cái biết và trí tuệ thấu suốt.

Với con người, cả vũ trụ là những khối đất đá vô tri. Còn với những vị A La Hán, cả vũ trụ này là một khối biết, một khối tâm, một khối trí tuệ, một khối cảm ứng, không phải là những thiên thể vô tri bay lẩn quẩn với nhau. Cả quá khứ, hiện tại, vị lai nằm chung trong một chỗ của cái biết này. Đó là cái biết tự nhiên, cảm ứng, không dựa vào tai mắt.

Người vẫn còn chấp ngã mà đã ý thức về vô ngã được gọi là một bậc Thượng căn. Trong cuộc sống, họ luôn tự nhắc mình về vô ngã, quán chiếu về trạng thái vô ngã, ý niệm vô ngã, tức“Thân chẳng phải là ta/ Tâm chẳng phải là ta/ Chẳng có gì là ta” thì tự tâm hồn, cuộc đời họ đi về hướng giác ngộ. Lúc đó, có hai điều hiện ra là đạo đức và công đức.

Có phúc nghĩa là gì? Nghĩa là người được quyền có nhiều sự lựa chọn. Đây là định nghĩa rất căn bản. Và thông qua nhiều câu chuyện kể, Thượng tọa đã chứng minh phúc nhiều hay ít đã quyết định cuộc sống của họ được chọn lựa hay không chọn lựa. Và người có phúc rất lớn, khi mất đi rồi, họ có quyền lựa chọn sinh về cõi trời hay quay xuống cõi người, nếu chọn cõi người họ vẫn luôn có quyền chọn lựa giữa rất nhiều điều. Nếu chọn những niềm vui tạm bợ của thế gian làm tâm loạn lên, làm bản ngã khởi động trở lại, họ sẽ mất đạo đức và cũng có nghĩa mất luôn công đức. Vì thế, người khôn ngoan sẽ chọn con đường tiếp tục giúp họ diệt trừ bản ngã. Thiền định chính là phương pháp diệt trừ bản ngã. Đó là lý do một người muốn đi tìm sự giải thoát giác ngộ, vô ngã thì buộc phải tu tập thiền định, không còn con đường nào khác.

Nếu đi đúng trên con đường Phật đạo, sẽ có ngày phước báo của chúng ta tràn ngập. Khi đó, những điều thù thắng lần lượt hiện ra: dung nhan rực rỡ, gia sản, quyền uy lớn, thông minh đĩnh ngộ, trí tuệ sắc bén… làm ta tăng lại bản ngã. Lúc này đòi hỏi nơi ta một bản lĩnh, trí tuệ lớn hơn nữa để ta đấu với cái phước của mình, đừng để tăng lại bản ngã mà phí đi bao nhiêu kiếp tu hành.

Khó vượt qua nhất là trường hợp những người khi phước quá lớn, có quyền chọn lựa để về những cõi trời rồi thì thường họ không bao giờ muốn trở lại cõi người nữa. Với con mắt của một bậc Thánh, tất cả những điều của chúng sinh đều không đáng để đắm luyến. Nên những vị Bồ tát thị hiện xuống với cuộc đời này là những vị cực kì vĩ đại. Họ đã đến với cõi chúng sinh “ngũ trược ác thế”, đến với thế giới ô uế và ác độc mà vẫn chấp nhận chịu đựng, chấp nhận bao nhiêu sự hủy báng, nhục mạ, oan ức để nở nụ cười yêu thương, đem ánh sáng đạo pháp với cuộc đời.

Cũng vậy, khi đã hiểu được lộ trình giác ngộ này, nếu tu hành đúng hướng, chắc chắn có ngày ta sẽ đạt được phước báo vô tận, đạt được sự lựa chọn rộng rãi. Lúc đó hãy nhớ quay lại với chúng sinh, nơi cõi đời ô trượt này để yêu thương, hi sinh, phụng sự, giáo hóa không ngưng nghỉ.

Tóm lại, Thượng toạ luôn gợi mở cho các phật tử những quan điểm mới về những điều tưởng như rất cũ, hầu mang lại một hướng đi đúng, để giúp cho mọi người có được sự chuyển hóa sâu sắc và lâu bền trong tu tập. Nhờ vậy, các phật tử từng bước học được những kinh nghiệm quý giá của người đi trước./.

 

Nguồn Thiền Tôn Phật Quang

0 Shares