Củng cố lý thuyết Thiền

cung-co-kien-thuc-thien

HỎI: Sự khác nhau giữa hơi thở tự nhiên, Biết mà không điều khiển, với hơi thở cố ý làm cho chậm lại là như thế nào?

ĐÁP: Hơi thở ghìm cho chậm và êm có tác dụng khiến ta biết rõ toàn thân cực kỳ hiệu quả, và như vậy cũng là khiến vọng tưởng tan biến rất nhanh. Nhưng mới ngồi thiền mà ghìm hơi thở chậm thì rối loạn đủ thứ liền. Vì thế, ban đầu ta phải làm quen với hơi thở có ý thức bằng cách Biết mà không điều khiển hơi thở, dần dần ta mới “nắm” được hơi thở.

Nhiều người sợ tập luyện hơi thở vì buổi đầu hăm hở nhào vô thở sâu, thở dài, thở có điều khiển, chỉ 3 phút thôi là cơ thể cực kỳ khó chịu phải bỏ tập liền. Phải kiên nhẫn chỉ Biết mà thôi, biết mà không điều khiển. Biết mà không điều khiển để làm quen với hơi thở (dù cả đời vẫn thở), thì sự tỉnh giác không đủ mạnh để nhiếp tâm, nhưng không thể đốt giai đoạn nhanh được. Giai đoạn này có khi lấy mất mấy năm. It may take us several years for this stage.

Khi đã thật sự quen thuộc với hơi thở tự nhiên có ý thức rồi thì ta tập ghìm hơi thở cho êm và chậm lại, và cũng không cần thở cho dài, ít thôi. Ham thở dài là mệt tim liền. Muốn tập ghìm hơi thở cho êm và chậm lại thì nên tập Âm Dương khí công, làm quen với hơi thở chậm khi thở ra trước. Âm Dương khí công mà thuần thục thì khi tập tâm đã yên luôn. Khi đã quen rồi thì cả hơi thở vào và hơi thở ra đều có thể ghìm cho êm và chậm lại, lúc đó thực sự thiền định của ta đã bước qua giai đoạn mới.

HỎI: Tại sao khi tâm yên thì nhiều tà kiến xuất hiện?

ĐÁP: Nếu tâm yên thì mặc nhiên sẽ tiến bộ đúng hướng thì ngoại đạo đã chứng A la hán hết rồi. Cái khổ sở nhất cho chúng sinh là tâm yên rồi mà bề sâu tâm thức vẫn hoạt động, vẫn nhận xét, vẫn phê bình, vẫn sáng tạo đủ thứ. Ngoại đạo sẽ sáng tạo ra các lý luận mới theo cái cách suy nghĩ của họ. Và các thiền sư đạo Phật cũng sẽ sáng tạo ra các lý luận mới theo ý các thiền sư. Đây là lý do Phật Pháp chuyển sang thời kỳ TƯỢNG PHÁP. Thời Đức Phật còn tại thế, khi tâm một tỳ kheo yên lắng, các vị không khởi lên lý luận mới vì phải đi theo đúng lời dạy của Phật để hướng về Vô ngã, phải biết rõ mình đang ở giai đoạn nào để mà cố gắng tiếp. Sau khi Phật nhập diệt, các vị A la hán cũng lần lượt ra đi, thì các tỳ kheo đời sau không còn ai cầm giữ giềng mối nữa, nên đã khởi nhiều lý thuyết mới theo ý mình.

Nhiều thiền sư đã dạy đệ tử theo kinh nghiệm của riêng mình, theo căn cơ thượng thừa của riêng mình, nên các đệ tử không đạt được kết quả nhiều.

Ta muốn trở lại thời kỳ CHÁNH PHÁP thì phải Biết lộ trình thiền định rất rõ để khi tu có kết quả không bị lầm tưởng đã cao siêu, biết con đường còn dài ở phía trước. Chỉ vì không biết rõ lộ trình nên ta hay khởi tà kiến tự khen mình quá cao siêu, rồi bị tổn phước, rồi bị đọa lạc, rất đáng thương.

Ta cũng phải xác định mục tiêu hướng về Vô ngã, dù tâm đạt được kết quả gì cũng quay lại canh chừng bản ngã còn ẩn núp rất sâu trong đó. Nhờ vậy mà ta biết mình chưa được thánh quả gì nhiều, nên khiêm hạ tiến tu.

HỎI: Vừa biết toàn thân, vừa theo dõi hơi thở, tâm bị chia làm hai cực quá.

ĐÁP: Nên hiểu thế này, toàn thân này đang thở. Thân này thở, chứ không phải TA thở, không phải TA biết toàn thân. Không có TA, chỉ có Thân này đang thở, toàn thân này đang thở.

HỎI: Tại sao khi tâm yên thì không được an trú vào cái trạng thái vi diệu đó mà buộc phải quay lại an trú toàn thân như mới bắt đầu tập thiền vậy?

ĐÁP: Khi tâm yên thì xuất hiện một trạng thái tâm rỗng không sáng tỏ, dễ chịu, vi diệu, an lạc. Nhưng đó là cái ngọn, không phải cái gốc. Nếu ta an trú vào cái trạng thái tâm yên tĩnh, rỗng không, an lạc, vi diệu đó thì Nội lực ở Chân Âm bị bốc lên nhanh dần, cái gốc bị trống, nhiều bệnh tật sẽ phát sinh, và cuối cùng là hư luôn não bộ, rất nguy hiểm. Tâm yên thì kệ nó, cứ vững vàng an trú toàn thân như ban đầu, giữ cái gốc cho kỹ, vậy mà nội lực được củng cố, định lực được bảo vệ, đi được xa.

Hầu hết những người tu thiền có kết quả rồi sau đó bị hư là do vội vàng chụp lấy cái tâm yên đó để an trú, thế là mất cái gốc, chạy theo cái ngọn, chẳng bao lâu nội tâm sụp đổ. Mà an trú vào cái tâm yên đó cũng gây tâm lý kiêu mạn. Còn nếu ta cứ tiếp tục an trú toàn thân, biết thân vô thường, thì kềm được tâm lý kiêu mạn thầm kín không cho bộc khởi.

HỎI: Thế nào là lọt hẳn vào Chánh niệm Tỉnh giác?

ĐÁP: Khi ta dụng công đúng thì tâm ta xuất hiện trạng thái Chánh niệm Tỉnh giác chút chút. Chánh niệm Tỉnh giác này giúp ta phát hiện vọng tưởng khởi, giúp ta tỉnh táo mọi thứ, giúp ta kiểm soát thân tâm, giúp ta NHỚ công phu thường xuyên. Nhưng cái Chánh niệm này hay bị gián đoạn, hay bị vọng tưởng khởi lên mạnh che mất.

Còn khi đủ công đức, đủ bề dày tu hành, đủ định lực, ta lọt hẳn vào Chánh niệm Tỉnh giác thì từ đó không bị vọng tưởng bất ngờ khởi lên che nữa, tự nó có thường xuyên luôn. Đây là chỗ các thiền sư gọi là ngộ đạo kiến tánh.

Nhưng vì nó có tính chất không bị vọng tưởng che nữa, tự nhiên tỉnh giác mãi, không cần dụng công, nên đã khiến xuất hiện các lý thuyết cho rằng trạng thái đó là cái bất sinh bất diệt, đủ thứ cao siêu. Nó khó bị thoái chuyển thôi, chứ vẫn có thể bị thoái chuyển nếu hành giả không cẩn thận khiêm tốn giữ gìn. Nếu kiêu mạn quá thì ngay kiếp này nó mất. Nếu kiêu mạn ít hơn thì qua kiếp sau bị mất, chứ không phải bất sinh bất diệt gì đâu.

HỎI: Kiến tánh rồi mà vẫn mong manh vậy sao?

ĐÁP: Tại mình tự cho kiến tánh nên tưởng nó ghê gớm lắm, chứ phía trước con đường còn rất dài. Vọng tưởng chưa hết mà. Dù cho vọng tưởng hết cũng chưa Nhập định mà. Dù cho Nhập định vẫn chưa diệt hết Bản ngã Vô minh mà.

 

Nguồn BKY

Giải pháp xe điện
How to learn English well?

Other posts of the serie

0 Shares